Tiêu chuẩn

AASHTO T 99-01: Mối quan hệ giữa Độ ẩm – Độ chặt của đất sử dụng búa 2,5-kg (5,5-lb) và độ rơi 305-mm (12-in.)

Phương pháp thử nghiệm tiêu chuẩn

Mối quan hệ giữa Độ ẩm – Độ chặt của đất sử dụng búa 2,5-kg (5,5-lb) và độ rơi 305-mm (12-in.)
AASHTO T 99-01
1.   PHẠM VI ÁP DỤNG

1.1. Phương pháp thử nghiệm này nhằm mục đích xác định mối quan hệ giữa độ ẩm và độ chặt của đất nén trong khuôn có kích cỡ cho trước bằng búa 2,5-kg (5,5-lb) rơi từ độ cao 305 mm (12 in.). Có bốn quy trình thay thế như sau:
–  Phương pháp A – Khuôn 101,60-mm (4-in.): Vật liệu đất đi qua sàng 4,75-mm (số 4) Phần 3 và 4.
–  Phương pháp B – Khuôn 152,40-mm (6-in.): Vật liệu đất đi qua sàng 4,75-mm (số 4) Phần 5 và 6.
–  Phương pháp C – Khuôn 101,60-mm (4-in.): Vật liệu đất đi qua sàng 19,0-mm (¾-in.) Phần 7 và 8.
–  Phương pháp D – Khuôn 152,40-mm (6-in.): Vật liệu đất đi qua sàng 19,0-mm (¾-in.) Phần 9 và 10.
1.2. Phương pháp sử dụng phải nêu rõ tiêu chuẩn đối với vật liệu thử nghiệm. Nếu không có phương pháp nào được nêu cụ thể thì sẽ theo quy trình của Phương pháp A.
1.3. Phương pháp thử nghiệm này áp dụng cho hỗn hợp đất có ≤40% lưu lại trên sàng 4,75-mm (số 4) khi áp dụng Phương pháp A hoặc B, và ≤30% lưu lại trên sàng 19,0-mm (¾-in.) khi áp dụng Phương pháp C hoặc D. Vật liệu lưu lại trên những sàng này sẽ được xem là các hạt quá cỡ (hạt thô).
1.4. Nếu mẫu thử chứa các hạt quá cỡ, và mẫu thử được sử dụng để kiểm soát độ chặt tại hiện trường và hiệu chỉnh theo tiêu chuẩn T 224 để so sánh tổng độ chặt tại hiện trường với độ chặt mẫu nén. Người hoặc cơ quan ban hành phương pháp thử nghiệm này phải nêu rõ tỷ lệ tối thiểu các hạt quá cỡ mà dưới mức đó không cần phải hiệu chỉnh các hạt quá cỡ. Nếu không nêu rõ tỷ lệ tối thiểu, phải hiệu chỉnh cho các mẫu thử có hơn 5% trọng lượng là các hạt quá cỡ.
1.5. Nếu vượt quá dung sai tối đa quá cỡ theo quy định, thì phải sử dụng phương pháp kiểm soát nén khác.
CHÚ THÍCH 1 – Có một phương pháp để thiết kế và kiểm soát độ nén của đất đó là sử dụng khối đất thử nghiệm để xác định độ nén yêu cầu và phương pháp để thu được độ nén đó. Sau đó sử dụng phương pháp tiêu chuẩn để kiểm soát độ nén bằng cách quy định loại và kích thước của thiết bị nén, độ dày nâng và khối lượng đi qua.
1.6. Điều sau áp dụng cho các giới hạn quy định trong tiêu chuẩn này: Với mục đích xác định sự tuân thủ theo tiêu chuẩn, giá trị quan sát hoặc giá trị tính toán phải được làm tròn tới “đơn vị gần nhất” tại điểm cuối cùng bên tay phải của các số liệu sử dụng để thể hiện giá trị giới hạn, theo tiêu chuẩn R 11.
1.7. Giá trị có đơn vị SI được xem là tiêu chuẩn.
2.   TÀI LIỆU VIỆN DẪN
2.1. Tiêu chuẩn AASHTO:
–  M 92, Sàng vải sợi kim loại phục vụ mục đích thử nghiệm
–  M 231, Thiết bị cân sử dụng trong thử nghiệm vật liệu
–  R 11, Thể hiện vị trí số liệu được xem là quan trong trong giá trị giới hạn quy định
–  T 19/T 19M, Mật độ khối (“Trọng lượng riêng”) và độ rỗng trong cốt liệu
–  T 224, Hiệu chỉnh các hạt thô trong thử nghiệm độ nén của đất
–  T 265, Xác định độ ẩm của đất trong phòng thí nghiệm
2.2. Tiêu chuẩn ASTM:
–  D 2168, Hiệu chỉnh máy đầm đất bằng búa trong phòng thí nghiệm
3.   THIẾT BỊ MÁY MÓC
3.1. Khuôn – Khuôn phải có hình trụ bằng kim loại thành đặc được sản xuất với kích thước và dung tích như trong Mục 3.1.1 và 3.1.2 dưới đây. Khuôn phải có hệ bích tháo rời được cao khoảng 60 mm (2,375 in.), cho phép chuẩn bị mẫu thử nén của hỗn hợp đất – nước ở độ cao và thể tích mong muốn. Khuôn và hệ bích phải được lắp đặt sao cho có thể siết chặt vào tấm đỡ tháo rời được làm bằng vật liệu tương tự (Chú thích 2). Tấm đỡ phải phẳng đến 0,005 in. như trong Hình 1 và Hình 2.
CHÚ THÍCH 2 – Có thể sử dụng loại khuôn thay thế có công suất quy định trong tiêu chuẩn này với điều kiện kết quả thử nghiệm là tương ứng với kết quả của khuôn thành đặc trên một số loại đất và thu được kết quản độ ẩm – độ chặt tương tự. Ghi chép lại mối tương quan này sẽ được lưu lại và sẵn sàng để đối chiếu nếu sử dụng loại khuôn thay thế khác.
3.1.1.   Khuôn 101,6-mm (4-in.) có dung tích 0,000943 ± 0,000008 m3 ( (0,0333) ± 0,0003 cu ft) với đường kính trong là 101,60 ± 0,41 mm (4,000 ± 0,016 in.) và chiều cao 116,43 ± 0,13 mm (4,584 ± 0,005 in.) (Hình 1).
3.1.2.   Khuôn 152,4-mm (6-in.) có dung tích 0,002124 ± 0,000021 m3 ( (0,07500) ± 0,00075 cu ft) với đường kính trong là 152,40 ± 0,66 mm (6,000 ± 0,026 in.) và chiều cao 116,43 ± 0,13 mm (4,584 ± 0,005 in.) (Hình 2).
3.1.3.   Khuôn vượt quá dung sai do quá trình sử dụng – Khuôn không đáp ứng dung sai sản xuất sau quá trình sử dụng liên tục có thể vẫn được sử dụng nếu dung sai không vượt quá 50%; và thể tích khuôn, hiệu chỉnh theo tiêu chuẩn T 19/T 19M đối với khối lượng riêng của cốt liệu, được sử dụng để tính toán.

AASHTO T 99AASHTO T 99

AASHTO T99-3

3.2.      Búa

3.2.1.  Vận hành thủ công – Búa kim loại với khối lượng 2,495 ± 0,009 kg (5,5 ± 0,02 lb) và có bề mặt tròn phẳng đường kính 50,80 mm (2,000 in.) với dung sai của nhà sản xuất là ± 0,25 mm (±0,01 in.). Đường kính có ích của bề mặt tròn phẳng này không được nhỏ hơn 50,42 mm (1,985 in.). Búa đầm phải được trang bị ống dẫn hướng phù hợp để kiểm soát độ sụt tới mức 305 ± 2 mm (12,00 ± 0,06 in.) trên độ cao của đất. Ống dẫn hướng phải có ít nhất 4 lỗ thông khí, đường kính không nhỏ hơn 9,5-mm ( in.), cách nhau khoảng 90 độ (1,57 rad) và cách mỗi đầu khoảng 19 mm ( in.); và phải có đủ khe hở để có thể làm rơi trục và đầu búa một cách tự do.

3.2.2.  Vận hành cơ khí – Búa kim loại được trang bị cùng với thiết bị kiểm soát độ rơi tới mức 305 ± 2 mm (12,00 ± 0,06 in.) trên độ cao của đất, và phân bố đồng đều sự rơi trên mặt đất (Chú thích 3). Búa phải có khối lượng 2,495 ± 0,009 kg (5,5 ± 0,02 lb) (Chú thích 2) và có bề mặt tròn phẳng đường kính 50,80 mm (2,000 in.) với dung sai của nhà sản xuất là ± 0,25 mm (±0,01 in.). Đường kính có ích của bề mặt tròn phẳng này không được nhỏ hơn 50,42 mm (1,985 in.). Búa cơ phải được hiệu chỉnh theo tiêu chuẩn ASTM D 2168.

CHÚ THÍCH 3 – Thực tế có thể không điều chỉnh thiết bị cơ học sao cho khoảng cách rơi tự do là 305-mm (12 in.) mỗi lần búa rơi, với búa vận hành thủ công. Để điều chỉnh khoảng cách rơi tự do, phần đất xốp để đập búa lên làn đầu nên được nén nhẹ bằng búa để tạo điểm tác động sau đó xác định khoảng rơi 305-mm (12-in.); các lần đập búa lên sau đó trên lớp đất bị nén có thể áp dụng bằng cách để rơi búa ở độ cao 305-mm (12-in.) trên độ cao thiết lập ban đầu, hoặc khi thiết bị cơ học được thiết kế với bộ điều chỉnh độ cao cho mỗi lần đập búa lên. Tất cả những lần đập búa lên sau đó cần phải dùng búa rơi tự do 305-mm (12-in.) đo được từ độ cao đất bị nén bởi lần đập búa trước đó. Chi tiết về quy trình hiệu chỉnh máy đầm đất của búa cơ trong phòng thí nghiệm xem tiêu chuẩn ASTM D 2168.

3.2.3.    Bề mặt búa  – Phải sử dụng búa mặt tròn nhưng cũng có thể sử dụng búa mặt hình quạt thay thế nếu báo cáo chỉ ra loại mặt búa sử dụng ngoài mặt tròn kích thước 50,8-mm (2-in.) và phải có diện tích bằng với diện tích của búa mặt tròn.

3.2.      Máy ép đùn mẫu (chỉ dùng cho khuôn thành đặc) – Giác cắm, cần, khung hoặc thiết bị phù hợp với mục đích ép đùn mẫu nén từ khuôn.

3.3.      Cân và thang đo – Cân hoặc thang đo đáp ứng yêu cầu của M 231, Loại G 20. Ngoài ra cân còn phải đáp ứng yêu cầu của M 231, Loại G 2.

CHÚ THÍCH 4 – Công suất của cân và thang đo vào khoảng 11,5 kg khi sử dụng để đo khối lượng khuôn 152,40-mm (6-in.) đối với đất nén ẩm; Tuy nhiên, nếu sử dụng khuôn 101,60-mm (4-in.), thì cân hoặc thang đo với công suất nhỏ hơn 11,5 kg cũng có thể được sử dụng nếu độ nhạy và độ đọc được là 5 g.

3.4.      Lò sấy – Lò sấy kiểm soát theo sự ổn nhiệt có khả năng duy trì nhiệt độ ở 110 ± 50C (230 ± 90F) để sấy mẫu ẩm.

3.5.      Thước kiểm – Thước kiểm bằng thép cứng dài tối thiểu 250 mm (10 in.). Thước này phải có một cạnh nghiêng, và ít nhất một bề mặt dài (sử dụng để cắt mép lần cuối) phải phẳng trong giới hạn 0,250 mm trên 250 mm (0,01 in. trên 10 in.) (0,1%) chiều dài của phần để cắt mép đất (Chú thích 5).

CHÚ THÍCH 5 – Cạnh nghiêng có thể được dùng để cắt mép lần cuối nếu cạnh này thực sự nằm trong giới hạn dung sai 0,25 mm trên chiều dài 250 mm (0,1%); tuy nhiên, nếu tiếp tục sử dụng, cạnh cắt này có thể bị mài mòn và không phù hợp để cắt mép đất tới mức khuôn. Thước kiểm không nên quá dẻo dẫn tới việc cắt mép bề mặt đất với cạnh cắt có thể gây ra bề mặt lồi lõm.

3.6.      Sàng – Sàng 50-mm (2-in.), 19,0-mm ( in.) và 4,75-mm (số 4) đáp ứng yêu cầu của tiêu chuẩn M 92.

3.7.      Dụng cụ trộn – Dụng cụ trộn như bể trộn, phễu, bay, dao trộn, … hoặc thiết bị cơ khí phù hợp để trộn mẫu đất hoàn toàn khi đổ nước vào.

3.8.      Bể chứa – Bể chứa phù hợp làm bằng vật liệu chống ăn mòn và không thay đổi về khối lượng hoặc không bị phân rã khi gia nhiệt và làm lạnh nhiều lần. Bể chứa phải có nắp khít để tránh thất thoát độ ẩm từ mẫu trước khi tính toán khối lượng ban đầu và để ngăn hấp thụ độ ẩm từ không khí sau khi sấy khô và trước khi xác định khối lượng cuối cùng. Cần phải có một bình chứa để xác định độ ẩm.

 
PHƯƠNG PHÁP A

 
4. LẤY MẪU
4.4. Nếu mẫu đất bị ẩm khi nhận được từ hiện trường, sấy khô cho đến khi có thể dùng bay để làm vỡ vụn ra. Sấy khô có thể được thực hiện trong không khí hoặc sử dụng thiết bị sấy duy trì ở nhiệt độ không quá 600C (1400F). Sau đó đập vỡ hoàn toàn cốt liệu bằng cách sao cho tránh giảm kích thước tự nhiên của các hạt riêng biệt.
4.2. Sàng khối lượng đất nghiền đại diện vừa đủ qua sàng 4,75-mm (số 4). Loại bỏ vật liệu thô, nếu có, lưu lại trên sàng 4,75-mm (số 4).
4.3. Chọn mẫu đại diện, với khối lượng khoảng ≥ 3 kg (7 lb) đất như chuẩn bị trong Mục 4.1 và 4.2.
CHÚ THÍCH 6 – Khi lập biểu đồ nen cho đất tiêu nước tự do, như đất và sỏi đồng đều, ở những nơi xảy ra rò rỉ ở đáy khuôn hoặc tấm đỡ, lấy mẫu ẩm đại diện từ khay trộn để xác định độ ẩm để tiến hành nén.

 

5. QUY TRÌNH
5.5. Trộn hoàn toàn mẫu đại diện được chọn với đủ lượng nước để làm ẩm tới mức khoảng 4% dưới độ ẩm tối ưu.
5.2. Tạo mẫu bằng cách nén đất đã chuẩn bị trong khuôn 101,60-mm (4-in.) (gắn vào vành bích) với 3 lớp gần bằng nhau để cho tổng độ sâu nén khoảng 125 mm (5 in.). Trước khi nén, cho đất xốp vào khuôn và tán ra thành một lớp với độ dày đồng nhất. Đầm nhẹ đất trước khi nén cho đến khi không còn xốp và mịn, sử dụng đầm nén thủ công hoặc thiết bị tương tự có đường kính bề mặt khoảng 50 mm (2 in.). Sau khi nén 2 lớp đầu tiên, những phần đất gần thành khuôn không được nén hoặc nhô ra khỏi bề mặt nén sẽ được gạt đi sử dụng dao hoặc dụng cụ phù hợp, và được phân bố đồng đều trên lớp đất. Nén mỗi lớp bằng 25 lần đập búa đồng đều cho rơi tự do ở độ cao 305-mm (12-in.) trên đất khi sử dụng đầm kiểu ống, hoăc từ độ cao 305-mm (12-in.) trên đất được nén bởi lần đập búa trước đó khi sử dụng búa kiểu gắn cố định. Trong quá trình nén, khuôn phải nằm chắc chắn trên nền hoặc tấm đỡ đặc, đồng nhất, cứng và ổn định.Tấm đỡ này phải cố định trong quá trình nén (Chú thích 7).
CHÚ THÍCH 7 – Các vật liệu sau được công nhận đáp ứng yêu cầu thử nghiệm khuôn trong quá trình nén đất: Khối bê tông khối lượng ≥ 90 kg (200 lb), đỡ bởi móng cố định; sàn bê tông phù hợp; hoặc để sử dụng tại hiện trường như bề mặt trong cống hộp, cầu hay vỉa hè bằng bê tông.
5.2.5. Sau khi nén, tháo vành bích, cẩn thận gạt đất nén trên đỉnh khuôn bằng thước kiểm, và xác định khố lượng khuôn và đất ẩm bằng đơn vị kilogram, chính xác đến 5 gam, hoặc xác định khối lượng bằng đơn vị pound chính xác đến 0,01 pound. Đối với khuôn có dung sai như trong Mục 3.5.1 và khối lượng ghi bằng đơn vị kilogram, nhân khối lượng mẫu nén và khuôn, trừ đi khối lượng khuôn, với 1060 và ghi kết quả là độ chặt ẩm, W1, đơn vị kilogram trên mét khối, của đất nén. Đối với khuôn có dung sai như trong mục 3.5.1 và khối lượng ghi bằng đơn vị pound, nhân khối lượng mẫu nén và khuôn, trừ khối lượng khuôn, với 30 và ghi lại kết quả là độ chặt ẩm, W1, đơn vị pound trên foot khối của đất nén. Đối với những khuôn được sử dụng có dung sai dưới 50% (Mục 3.5.3), sử dụng hệ số khuôn như xác định theo phần Hiệu chỉnh phương pháp đo của tiêu chuẩn T 19/T 19M.
5.3. Loại bỏ vật liệu ở khuôn và cắt dọc tâm. Lấy mẫu vật liệu đại diện từ một trong những miếng cắt, cân ngay và sấy khô theo tiêu chuẩn T 265. Xác định độ ẩm và ghi lại kết quả.
5.4. Đập vỡ hoàn toàn phần mẫu đúc khuôn còn lại cho đến khi đi qua sàng 4,75-mm (số 4) nhìn thấy được bằng mắt và thêm vào lượng mẫu còn lại để thử nghiệm. Đổ thêm đủ lượng nước để tăng độ ẩm cho đất khoảng 1 đến 2 % (tỷ lệ ngậm nước không được vượt quá 2,5%, trừ khi gặp đất sét nặng hoặc đất hữu cơ thể hiện đường tròn kéo dài phẳng, độ ẩm có thể tăng lên tới giá trị tối đa là 4%), lặp lại quy trình này đối với mỗi lượng nước tăng lên. Tiếp tục tính toán cho đến khi khối lượng ẩm riêng, W1, trên mét khối (foot khối) đất nén giảm đi hoặc không thay đổi (Chú thích 8).
CHÚ THÍCH 8 – Quy trình này đáp ứng trong hầu hết mọi trường hợp. Tuy nhiên, trong trường hợp vật liệu đất có tính chất dễ vỡ và giảm đáng kể kích cỡ hạt do bị nén đi nén lại, và trong trường hợp đất có kết cấu nặng như đất sét dẫn đến khó ngậm nước, thì cần phải sử dụng mẫu mới riêng cho thử nghiệm độ nén. Trong trường hợp này, các mẫu riêng cần phải trộn hoàn toàn với một lượng nước đủ để làm ẩm mẫu thay đổi khoảng 2%. Độ ẩm được lựa chọn phải gần bằng với độ ẩm tối ưu, với điều kiện mẫu thử sẽ tăng khối lượng tới độ chặt tối đa và sau đó giảm khối lượng khi bị nén lại. Mẫu hỗn hợp đất – nước phải để trong bình chứa có nắp và cho phép dựng đứng trong vòng chưa đến 12 giờ trước khi tiến hành thử nghiệm độ ẩm – độ chặt.
5.5. Trong trường hợp vật liệu đất có đặc tính dễ vỡ và bị giảm kích thước hạt đáng kể do nén đi nén lại nhiều lần, thì phải sử dụng mẫu riêng đối với mỗi lần thử nghiệm độ nén.

 

PHƯƠNG PHÁP B

 
6. LẤY MẪU
6.1. Chọn mẫu đại diện theo Mục 8.3 trừ khi mẫu có khối lượng khoảng 7 kg (16 lb).

7. QUY TRÌNH
7.1. Thực hiện quy trình tương tự như trong Phương pháp A ở mục 5, trừ trường hợp sau: Tạo mẫu thử bằng cách nén đất đã chuẩn bị trong khuôn 152,4-mm (6-in.) (có gắn vành bích) trong 3 lớp gần bằng nhau để cho tổng độ sâu nén khoảng 125 mm (5 in.), mỗi lớp nén bằng 56 lần đập búa đều nhau. Đối với khuôn có dung sai như trong Mục 8.11.2 và khối lượng ghi bằng đơn vị kilogram, nhân khối lượng mẫu nén và khuôn, trừ đi khối lượng khuôn, với 471 và ghi kết quả là độ chặt ẩm, W1, đơn vị kilogram trên mét khối, của đất nén. Đối với khuôn có dung sai như trong mục 8.11.2 và khối lượng ghi bằng đơn vị pound, nhân khối lượng mẫu nén và khuôn, trừ khối lượng khuôn, với 13,3 và ghi lại kết quả là độ chặt ẩm, W1, đơn vị pound trên foot khối của đất nén. Đối với những khuôn được sử dụng có dung sai dưới 50% (Mục 8.11.3), sử dụng hệ số khuôn như xác định theo phần Hiệu chỉnh phương pháp đo của tiêu chuẩn T 19/T 19M.

 

PHƯƠNG PHÁP C

 
8. LẤY MẪU
8.1. Nếu khi nhận được từ hiện trường mẫu đất bị ướt, sấy khô cho đến khi có thể dùng bay đập vỡ. Có thể sấy trong không khí hoặc sử dụng thiết bị sấy có khả năng duy trì nhiệt độ không quá 600C (1400F). Sau đó đập vỡ hoàn toàn cốt liệu bằng cách sao cho tránh giảm kích thước tự nhiên của các hạt riêng biệt.
8.7. Sàng một lượng đủ đất nghiền đại diện qua sàng 19,0-mm. Loại bỏ vật liệu thô, nếu có, lưu lại trên sàng 19,0-mm (Chú thích 9).
CHÚ THÍCH 9 – Sử dụng phương pháp hoán vị như quy định ở trên, có nghĩa là hạt quá cỡ có được thay bằng hạt mịn hơn, để duy trì tỷ lệ tương tự của vật liệu thô, không được xem là phù hợp để tính toán độ chặt tối đa.
8.8. Chọn mẫu đại diện, với khối lượng khoảng ≥ 5 kg (11 lb) từ đất đã chuẩn bị theo Mục 8.1 và 8.7.

9. QUY TRÌNH
9.1. Trộn đều mẫu đại diện đã chọn với đủ nước để làm ẩm tới khoảng 4% dưới mức độ ẩm tối ưu.
9.7. Tạo mẫu thử bằng cách nén lượng đất đã chuẩn bị trong khuôn 101,60-mm (4-in.) (có vành bích) trong 5 lớp gần bằng nhau để cho tổng độ sâu nén khoảng 125 mm (5 in.). Trước khi nén, cho đất xốp vào khuôn và tán ra thành một lớp với độ dày đồng nhất. Đầm nhẹ đất trước khi nén cho đến khi không còn xốp và mịn, sử dụng đầm nén thủ không hoặc thiết bị tương tự có đường kính bề mặt khoảng 50 mm (2 in.). Sau khi nén 4 lớp đầu tiên, những phần đất gần thành khuôn không được nén hoặc nhô ra khỏi bề mặt nén sẽ được gạt đi sử dụng dao hoặc dụng cụ phù hợp, và được phân bố đồng đều trên lớp đất. Nén mỗi lớp bằng 25 lần đập búa đồng đều cho rơi tự do ở độ cao 305-mm (12-in.) trên đất khi sử dụng đầm kiểu ống, hoăc từ độ cao 305-mm (12-in.) trên đất được nén bởi lần đập búa trước đó khi sử dụng búa kiểu gắn cố định. Trong quá trình nén, phải giữ khuôn cố định trên móng hoặc bệ đỡ đặc, đồng nhất, cứng và cố định. Bệ đỡ này phải giữ cố định trong quá trình nén (Chú thích 7).
9.7.1. Sau khi nén, loại bỏ vành bích, cẩn thận gạt đất nén trên đỉnh khuôn bằng thước kiểm. Các lỗ hổng tạo ra trên bề mặt do loại bỏ vật liệu thô sẽ được vá tạm bằng vật liệu nhỏ hơn. Xác định khối lượng khuôn và đất ẩm theo đơn vị kilogram, chính xác đến 5 gam, hoặc xác định khối lượng bằng đơn vị pound chính xác đến là 0,01 pound. Đối với khuôn có dung sai như trong Mục 8.11.1 và khối lượng ghi bằng đơn vị kilogram, nhân khối lượng mẫu nén và khuôn, trừ đi khối lượng khuôn, với 1060 và ghi kết quả là độ chặt ẩm, W1, đơn vị kilogram trên mét khối, của đất nén. Đối với khuôn có dung sai như trong mục 8.11.1 và khối lượng ghi bằng đơn vị pound, nhân khối lượng mẫu nén và khuôn, trừ khối lượng khuôn, với 30 và ghi lại kết quả là độ chặt ẩm, W1, đơn vị pound trên foot khối của đất nén. Đối với những khuôn được sử dụng có dung sai dưới 50% (Mục 8.11.3), sử dụng hệ số khuôn như xác định theo tiêu chuẩn T 19/T 19M.
9.8. Loại bỏ vật liệu ở khuôn và cắt dọc tâm. Lấy mẫu vật liệu đại diện từ một trong những miếng cắt và cân ngay. Xác định độ ẩm theo tiêu chuẩn T 265 và ghi lại kết quả.
9.9. Đập vỡ hoàn toàn phần vật liệu còn lại cho đến khi đi qua sàng 19,0-mm và 90% cốt liệu đất đi qua sàng 4,75-mm nhìn thấy được bằng mắt và thêm lượng mẫu còn lại để thử nghiệm. Đổ thêm đủ lượng nước để tăng độ ẩm cho đất khoảng 1 đến 2 % và lặp lại quy trình này đối với mỗi lượng nước tăng lên. Tiếp tục tính toán cho đến khi khối lượng ẩm riêng, W1, trên mét khối (foot khối) đất nén giảm đi hoặc không thay đổi (Chú thích 8).

 

PHƯƠNG PHÁP D

 

10. LẤY MẪU
10.1. Chọn mẫu đại diện theo Mục 8.3, trừ khi mẫu có khối lượng khoảng 11 kg (25 lb).

11. QUY TRÌNH
11.1. Thực hiện quy trình giống như trong Phương pháp C ở Mục 9, trừ các bước sau: Tạo mẫu thử bằng cách nén đất đã chuẩn bị trong khuôn 152,40-mm (6-in.) (có gắn vành khuôn) với 3 lớp gần bằng nhau để cho tổng độ sâu nén khoảng 125 mm (5 in.). Nén mỗi lớp bằng 56 lần đập búa đồng đều. Đối với khuôn có dung sai như trong Mục 8.11.2 và khối lượng ghi bằng đơn vị kilogram, nhân khối lượng mẫu nén và khuôn, trừ đi khối lượng khuôn, với 471 và ghi kết quả là độ chặt ẩm, W1, đơn vị kilogram trên mét khối, của đất nén. Đối với khuôn có dung sai như trong mục 8.11.2 và khối lượng ghi bằng đơn vị pound, nhân khối lượng mẫu nén và khuôn, trừ khối lượng khuôn, với 13,33 và ghi lại kết quả là độ chặt ẩm, W1, đơn vị pound trên foot khối của đất nén. Đối với những khuôn được sử dụng có dung sai dưới 50% (Mục 8.11.3), sử dụng hệ số khuôn như xác định theo tiêu chuẩn T 19/T 19M.

TÍNH TOÁN VÀ BÁO CÁO

 

 

  1. MỐI QUAN HỆ ĐỘ ẨM – ĐỘ CHẶT

13.1.   Các tính toán trong Mục 12.1 để xác định độ ẩm và khối lượng riêng của đất sấy khô trong lò tương ứng (độ chặt) đơn vị kilogam trên mét khối hoặc pound trên foot khối đối với mẫu nén. Độ chặt đất sấy khô trong lò (khối lượng riêng) được biễu diễn sơ đồ trên trục tung và độ ẩm tương ứng trên trục hoành.

13.2.   Độ ẩm tối ưu – Khi độ chặt và độ ẩm tương ứng của đất được tính toán và thể hiện trên biểu đồ như trong Mục 13.1, việc kết nối các điểm biểu diễn trên một đường liền sẽ tạo ra một vòng tròn. Độ ẩm tương ứng với đỉnh đường tròn sẽ được gọi là “độ ẩm tối ưu” trong đất sau quá trình nén.

13.3.   Độ chặt tối đa – Độ chặt sấy khô trong lò đơn vị kilogram trên mét khối hoặc pound trên foot khối của đất ở độ ẩm tối ưu được gọi là “độ chặt tối đa” trong quá trình nén.

  1. BÁO CÁO

14.1.   Báo cáo phải bao gồm những thông tin sau:

14.1.1.   Phương pháp sử dụng (A, B, C hoặc D);

14.1.2.      Độ ẩm tối ưu, đơn vị %, tới giá trị gần nhất;

14.1.3.      Độ chặt tối đa, đơn vị kilogam trên mét khối chính xác đến 10 kg/m3 và đơn vị pound trên foot khối, tới giá trị gần nhất;

14.1.4.      Trong phương pháp C và D, phải chỉ rõ vật liệu lưu lại trên sàng 19,0-mm được loại bỏ hay thay thế.

14.1.5.      Loại bề mặt nếu không sử dụng mặt tròn 50,8-mm (2-in.).

  1. BÁO CÁO ĐỘ CHÍNH XÁC

15.1.   Khả năng lặp lại (Một người thực hiện) – Hai kết quả thu được bởi cùng một người thực hiện trên cùng một mẫu thử bằng cùng một thiết bị máy móc vào ngày khác nhau có thể không đáng tin cậy nếu chênh lệch quá 10% đối với độ ẩm tối ưu và 35 kg/m3 (2,2 lb/ft3) đối với độ chặt tối đa.

15.2.   Khả năng sử dụng lại (Nhiều phòng thí nghiệm) – Hai kết quả thu được bởi nhiều người thực hiện trong các phòng thí nghiệm khác nhau có thể không đáng tin cậy nếu chênh lệch quá 15% đối với độ ẩm tối ưu và 72 kg/m3 (4,5 lb/ft3) đối với độ chặt tối đa.

0

Danh mục tiêu chuẩn BSI

Danh sách các tiêu chuẩn của BS phiên bản 2012. Nếu bạn cần bất kỳ tiêu chuẩn nào có thể comment bên dưới để lại thông tin như email hay điện thoại chúng tôi có thể sẽ chia sẻ với bạn.
Cảm ơn bạn ghé thăm.

0

Danh mục tiêu chuẩn ASTM 2014-2015

Danh sách toàn bộ các tiêu chuẩn của ASTM phiên bản 2014-2015. Nếu bạn cần bất kỳ tiêu chuẩn nào có thể comment bên dưới để lại thông tin như email hay điện thoại chúng tôi có thể sẽ chia sẻ với bạn.
Cảm ơn bạn ghé thăm.

0

TCXDVN 269:2002 PILES – STANDARD TEST METHOD FOR PILES UNDER AXIAL COMPRESSIVE LOAD

PILES – STANDARD TEST METHOD FOR PILES UNDER AXIAL COMPRESSIVE LOAD
CỌC – PHƯƠNG PHÁP THÍ NGHIỆM BẰNG TẢI TRỌNG TĨNH ÉP DỌC TRỤC

0
Page 1 of 9 12345...»